VĂN BẢN VÀ QUY CHẾ VỀ ĐÀO TẠO 

Văn bản và quy chế về công tác HS-SV

Quy chế ĐT theo tín chỉ
của Bộ GD
&ĐT (download)

Quy chế ĐT Đại học ở ĐHQGHN

Hướng dẫn tổ chức ĐT theo tín chỉ (K51, K52)

Quy định trách nhiệm của SV trong kỳ thi HK1 

Quy định ĐT Hệ Không Chính quy

Kế hoạch ĐT và Công tác HSSV

Thông tin thi học kỳ I


QUY CHẾ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC

Ở ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

(ban hành kèm theo Quyết định số 3413 /ĐT ngày 10 tháng 9 năm 2007

của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội)

 

CHƯƠNG I: CHƯƠNG TRÌNH VÀ TỔ CHỨC ĐÀO TẠO

CHƯƠNG II: TUYỂN SINH VÀ ĐĂNG KÝ HỌC TẬP

CHƯƠNG III: GIẢNG DẠY VÀ HỌC TẬP

CHƯƠNG IV: NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

CHƯƠNG V: KIỂM TRA THƯỜNG KỲ VÀ THI KẾT THÚC MÔN HỌC

CHƯƠNG VI: TỔ CHỨC THI, KIỂM TRA

CHƯƠNG VII: ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP VÀ XÉT CÔNG NHẬN TỐT NGHIỆP

CHƯƠNG VIII: ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

 

CHƯƠNG I

CHƯƠNG TRÌNH VÀ TỔ CHỨC ĐÀO TẠO

Điều 1. Đơn vị và ngành đào tạo đại học

Các trường đại học thành viên và các khoa, trung tâm trực thuộc có nhiệm vụ thường xuyên về đào tạo đại học ở Đại học Quốc gia Hà Nội là những đơn vị đào tạo đại học, chịu trách nhiệm tổ chức và quản lý đào tạo những ngành học, môn học được giao theo đúng chương trình và quy trình đào tạo do Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội ban hành.

Căn cứ vào năng lực đào tạo của mình, cũng như vào yêu cầu của sự phát triển khoa học, công nghệ và nhu cầu về nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, hàng năm đơn vị đào tạo sắp xếp, cơ cấu lại các ngành học hiện có hoặc xây dựng những ngành học mới, báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét cho phép tổ chức đào tạo những ngành học đã có trong danh mục đào tạo của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (danh mục đào tạo nhà nước) hoặc tổ chức đào tạo thí điểm những ngành học mới chưa có trong danh mục đào tạo nói trên.

Đại học Quốc gia Hà Nội báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc sắp xếp, cơ cấu lại, mở hoặc thí điểm các ngành học mới để Bộ theo dõi, tổng hợp, đánh giá, chính thức đưa vào danh mục đào tạo nhà nước những ngành học mới.

Điều 2. Hình thức dạy - học, giờ tín chỉ và tín chỉ

1. Có ba hình thức dạy - học:

          a. Lên lớp: sinh viên học tập trên lớp thông qua bài giảng, hướng dẫn của giảng viên tại lớp.

          b. Thực hành: sinh viên học tập thông qua thực hành, thực tập, làm thí nghiệm, làm bài tập, đọc và nghiên cứu tài liệu, … dưới sự trợ giúp trực tiếp của giảng viên.

          c.  Tự học: sinh viên tự học tập, nghiên cứu theo hình thức cá nhân hoặc tổ/nhóm ở nhà, ở thư viện, trong phòng thí nghiệm, … theo kế hoạch, nhiệm vụ, nội dung do giảng viên giao, được kiểm tra - đánh giá và tích luỹ vào kết quả học tập cuối cùng.

2. Giờ tín chỉ là đại lượng được dùng làm đơn vị để đo thời lượng lao động học tập của sinh viên. Giờ tín chỉ được phân thành ba loại theo cơ cấu các hình thức dạy-học, định lượng thời gian và được xác định như sau:

          a. Giờ tín chỉ lên lớp: gồm 1 tiết lên lớp và 2 tiết tự học.

          b. Giờ tín chỉ thực hành: gồm 2 tiết thực hành và 1 tiết tự học.

          c. Giờ tín chỉ tự học: gồm 3 tiết tự học.

              Một tiết học được tính bằng 50 phút

3. Tín chỉ là đại lượng xác định khối lượng kiến thức, kĩ năng (trung bình) mà sinh viên tích luỹ được từ môn học trong 15 giờ tín chỉ (cùng  loại hoặc khác loại) được thực hiện mỗi tuần 01 giờ tín chỉ và kéo dài trong một học kì gồm 15 tuần. Tín chỉ được sử dụng làm đơn vị để tích lũy khối lượng học tập của sinh viên.

Điều 3. Môn học

1. Môn học là một phần kiến thức tương đối trọn vẹn của một bộ môn khoa học, thuận tiện để người học tích luỹ dần toàn bộ kiến thức của một chương trình đào tạo trong quá trình học tập.

Mỗi môn học khối lượng từ 2 đến 5 tín chỉ, được thực hiện trọn vẹn trong một học kỳ.

2. Có hai loại môn học:

- Môn học bắt buộc là môn học chứa đựng những nội dung kiến thức chính yếu của chương trình đào tạo và sinh viên bắt buộc phải tích luỹ.

- Môn học tự chọn là môn học chứa đựng những nội dung kiến thức thể hiện tính đa dạng của chương trình đào tạo do sinh viên chọn theo hướng dẫn của đơn vị đào tạo hoặc tự chọn theo sở thích riêng.

3. Môn học tiên quyết đối với một môn học nào đó là môn học sinh viên bắt buộc phải tích lũy trước khi được phép học môn học này.

4. Khóa luận tốt nghiệp

Vào đầu học kỳ cuối cùng của khóa học, sinh viên được hướng dẫn đăng ký làm một đồ án hoặc khoá luận tốt nghiệp (gọi chung là khoá luận tốt nghiệp) hoặc thi tốt nghiệp chuyên môn. Tuỳ theo điều kiện của đơn vị đào tạo và đặc thù của từng ngành đào tạo, thủ trưởng đơn vị đào tạo quy định những điều kiện để sinh viên được làm khoá luận tốt nghiệp hoặc thi tốt nghiệp chuyên môn.

- Khóa luận tốt nghiệp được xem như một môn học tự chọn có khối lượng kiến thức tương đương 5 tín chỉ đối với các ngành khoa học tự nhiên, xã hội nhân văn, sư phạm hoặc 7 tín chỉ đối với các ngành kỹ thuật, công nghệ, hệ đào tạo chất lượng cao hoặc 10 tín chỉ đối với hệ đào tạo tài năng. Chủ nhiệm khoa (hoặc chủ nhiệm khoa trực thuộc) phân công cán bộ hướng dẫn khóa luận tốt nghiệp theo đề nghị của chủ nhiệm bộ môn. Đề tài khoá luận tốt nghiệp do cán bộ hướng dẫn xác định, đăng ký và thông qua ở bộ môn. Những đề tài có tính chất liên bộ môn phải được chủ nhiệm khoa (hoặc chủ nhiệm khoa trực thuộc) thông qua trước khi giao cho sinh viên thực hiện.

Điều 4. Chương trình đào tạo đại học

Chương trình đào tạo đại học là tập hợp các môn học được bố trí giảng dạy, học tập trong một khoá học với khối lượng kiến thức từ 120 tín chỉ đến 175 tín chỉ tuỳ theo loại chương trình đào tạo.

Chương trình đào tạo của một ngành đào tạo được xây dựng phù hợp với quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về cấu trúc và khối lượng kiến thức tối thiểu cho từng lĩnh vực chuyên môn. Chương trình đào tạo bao gồm các khối kiến thức: kiến thức chung, kiến thức cơ bản, kiến thức cơ sở, kiến thức chuyên ngành kiến thức nghiệp vụ.

Ngoài ra, các ngành đào tạo thuộc cùng một nhóm ngành có chung một khối lượng kiến thức cơ bản nhất định được gọi là kiến thức cơ bản chung của nhóm ngành.

Đối với bậc đại học, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức các loại chương trình đào tạo như sau:

- Chương trình đào tạo chuẩn có khối lượng từ 120 đến 140 tín chỉ. Loại chương trình này đặt mục tiêu đạt chuẩn chất lượng quốc gia.

- Chương trình đào tạo chất lượng cao về cơ bản dựa theo chương trình đào tạo chuẩn hiện hành, nhưng được cải tiến, nâng cao, có khối lượng từ 150 đến 155 tín chỉ để áp dụng các phương pháp dạy và học tiên tiến nhằm đạt được hiệu quả tiếp thu kiến thức, rèn luyện kỹ năng cao hơn. Chương trình này dành cho những sinh viên khá giỏi hệ chính quy của một số ngành khoa học cơ bản, công nghệ cao, kinh tế-xã hội mũi nhọn để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Loại chương trình này đặt mục tiêu đạt chất lượng với chuẩn mực khu vực, từng bước được mở rộng áp dụng chung cho hệ đào tạo chính quy thông thường, tiến tới đạt mục tiêu chất lượng cao đối với tất cả sinh viên trong tất cả các ngành đào tạo của Đại học Quốc gia Hà Nội.

- Chương trình đào tạo tài năng dành cho những sinh viên hệ chính quy đặc biệt xuất sắc, có năng khiếu về một ngành khoa học cơ bản để tạo nguồn nhân tài cho đất nước, với yêu cầu trình độ cao hơn và nội dung rộng hơn, sâu hơn so với chương trình đào tạo chuẩn, có khối lượng từ 165 đến 175 tín chỉ. Loại chương trình này đặt mục tiêu đạt trình độ quốc tế.

- Chương trình đào tạo quốc tế là chương trình đào tạo tài năng, chất lượng cao được quốc tế hoá hoặc chương trình đào tạo hợp tác với nước ngoài đạt trình độ quốc tế.

- Chương trình liên kết đào tạo quốc tế chương trình đào tạo của trường đại học nước ngoài có uy tín được điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam và được tổ chức thực hiện dưới hình thức liên kết đào tạo với các trường đại học nước ngoài có uy tín.

- Chương trình đào tạo chuyên tu nhằm nâng cấp chương trình đào tạo cao đẳng lên trình độ đại học được thiết kế riêng cho từng khóa học trên cơ sở bổ sung những kiến thức cần thiết để đảm bảo tương đương với chương trình đào tạo chuẩn nhưng không có khối kiến thức về Giáo dục thể chất.

Điều 5. Xây dựng và ban hành chương trình đào tạo

Đại học Quốc gia Hà Nội chỉ đạo chung việc xây dựng chương trình đào tạo. Khung chương trình đào tạo là danh mục các môn học và số lượng tín chỉ của từng môn học thuộc chương trình đào tạo. Đại học Quốc gia Hà Nội quy định cơ cấu và khối lượng các khối kiến thức, trực tiếp xác định danh mục và khối lượng kiến thức của các môn học thuộc khối kiến thức chung và khối kiến thức cơ bản chung của nhóm ngành, còn đơn vị đào tạo xác định danh mục và khối lượng kiến thức của các môn học thuộc các khối kiến thức còn lại và báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội để tổng hợp và tổ chức thẩm định khung chương trình đào tạo.

Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội giao cho một đơn vị đào tạo có chuyên môn phù hợp tổ chức xây dựng, nghiệm thu đề cương các môn học thuộc khối kiến thức chung và khối kiến thức cơ bản chung của nhóm ngành. Thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức xây dựng, nghiệm thu đề cương các môn học thuộc các khối kiến thức còn lại đối với các ngành học do đơn vị tổ chức đào tạo.

Điều 6. Đề cương môn học

Đề cương môn học phải cung cấp thông tin chủ yếu về nội dung và tổ chức dạy - học của môn học.

Đề cương môn học bao gồm:

- Thông tin về đơn vị đào tạo (tên trường, khoa, bộ môn,…).

- Thông tin về môn học (tên môn học, bắt buộc hay tự chọn, số lượng tín chỉ, loại giờ tín chỉ, các môn học tiên quyết,…).

- Thông tin về tổ chức dạy và học.

- Mục tiêu, nội dung cơ bản và phương pháp giảng dạy môn học.

- Giáo trình sử dụng và danh mục tài liệu tham khảo.

- Các yêu cầu và quy định về kiểm tra - đánh giá kết quả học tập.

- Một số thông tin liên quan khác theo quy định và hướng dẫn của ĐHQGHN.

Hàng năm, nội dung môn học, chuyên đề được điều chỉnh, bổ sung, cập nhật, hiện đại hóa phù hợp với trình độ phát triển khoa học, công nghệ và yêu cầu của thực tiễn. Việc điều chỉnh, bổ sung những nội dung cơ bản của môn học, chuyên đề phải được Hội đồng khoa học và đào tạo của đơn vị đào tạo thông qua và lập thành hồ sơ lưu tại đơn vị đào tạo. Trên cơ sở đó, đề cương môn học cũng phải thay đổi cho phù hợp.

Điều 7. Loại hình đào tạo

Các đơn vị đào tạo thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức đào tạo theo các loại hình đào tạo sau:

1. Hệ chính quy: đào tạo tập trung dài hạn theo chương trình đào tạo chuẩn.

2. Hệ tại chức (vừa học vừa làm): đào tạo không tập trung theo chương trình đào tạo chuẩn nhưng không có khối kiến thức về Giáo dục thể chất.

3. Hệ chuyên tu: đào tạo tập trung đối với người đã tốt nghiệp cao đẳng theo chương trình đào tạo chuyên tu.

4. Văn bằng thứ hai: đào tạo tập trung hoặc không tập trung đối với những người đã có một bằng đại học để lấy bằng đại học thứ hai theo chương trình đào tạo được xác định cho từng người học theo nguyên tắc:

a. Người học phải tích lũy đủ các môn học có trong chương trình đào tạo của ngành thứ hai mà khi học ngành thứ nhất chưa được học hoặc đã học nhưng chưa đủ khối lượng quy định.

b. Người học được bảo lưu kết quả học tập đối với những môn học trong chương trình đào tạo ngành học thứ nhất có từ 80% trở lên nội dung trùng với nội dung chương trình đào tạo của ngành học mới và thi đạt từ 5 điểm trở lên; những môn học có nội dung trùng từ  50% đến cận 80% thì không được bảo lưu kết quả học tập nhưng có thể tự học và dự thi để lấy điểm; những môn học chưa học hoặc có nội dung chương trình trùng dưới 50% thì người học phải dự học trên lớp mới được dự thi theo quy định chung.

Dựa vào kết quả học tập trên bảng điểm kèm theo bằng tốt nghiệp đại học, thủ trưởng đơn vị đào tạo quyết định việc bảo lưu kết quả học tập, khối lượng kiến thức, các môn học và nội dung phải học bổ sung đối với từng sinh viên.

5. Hệ đào tạo tài năng, chất lượng cao: đào tạo tập trung theo chương trình đào tạo tài năng, chất lượng cao và theo quy định riêng do Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội ban hành.

6. Đào tạo quốc tế: đào tạo tập trung theo chương trình đào tạo quốc tế do Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội giao nhiệm vụ và hướng dẫn tổ chức thực hiện.

7. Đào tạo liên kết quốc tế: hợp tác với trường đại học nước ngoài thực hiện chương trình đào tạo liên kết quốc tế. Nội dung, phương thức đào tạo và văn bằng của từng chương trình đào tạo liên kết quốc tế cụ thể do Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quy định, phù hợp với văn bản hợp tác ký với đại học đối tác nước ngoài.

8. Các loại hình đào tạo khác do Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quy định riêng đối với từng loại hình đào tạo cụ thể.

 Điều 8. Về các môn học Giáo dục quốc phòng và Giáo dục thể chất

1. Chương trình đào tạo hệ chính quy bao gồm cả các môn học về Giáo dục quốc phòng và Giáo dục thể chất.

2. Chương trình đào tạo hệ tại chức và hệ chuyên tu bao gồm các môn học về Giáo dục quốc phòng, không có các môn học về Giáo dục thể chất.

3. Đối tượng được miễn, tạm hoãn học các môn học về Giáo dục quốc phòng:

a. Đối tượng được miễn học toàn bộ các môn học về Giáo dục quốc phòng:

- Sinh viên nguyên là sĩ quan quân đội;

- Sinh viên là người nước ngoài;

- Sinh viên là người hưởng lương thuộc biên chế nhà nước được cơ quan cử đi học hệ tại chức hoặc hệ chuyên tu;

- Sinh viên đã được cấp chứng chỉ Giáo dục quốc phòng phù hợp với trình độ đào tạo.

b. Đối tượng được miễn các môn học thực hành về Giáo dục quốc phòng:

- Sinh viên đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự phục vụ tại ngũ (có quyết định xuất ngũ);

- Sinh viên là tu sĩ thuộc các tôn giáo;

- Sinh viên có thương tật, dị tật bẩm sinh làm hạn chế chức năng vận động (có giấy chứng nhận của bệnh viện cấp huyện và tương đương trở lên);

c. Đối tượng được tạm hoãn học các môn học về Giáo dục quốc phòng:

- Sinh viên đang học nhưng sức khỏe không đảm bảo;

- Sinh viên đang mang thai, nuôi con nhỏ dưới 24 tháng;

- Sinh viên có lý do đặc biệt về hoàn cảnh gia đình.

Các đối tượng trên nếu được thủ trưởng đơn vị đào tạo chấp thuận cho tạm hoãn học các môn học về Giáo dục quốc phòng, hết thời hạn tạm hoãn sinh viên phải tiếp tục học những nội dung còn thiếu trong chương trình quy định.

4. Đối tượng được miễn, tạm hoãn học các môn học về Giáo dục thể chất:

a. Đối tượng được miễn học toàn bộ các môn học về Giáo dục thể chất:

    Sinh viên đã hoàn thành các môn học về Giáo dục thể chất phù hợp với trình độ đào tạo.

b. Đối tượng được miễn các môn học thực hành về Giáo dục thể chất:

    Sinh viên có thương tật, dị tật bẩm sinh làm hạn chế chức năng vận động (có giấy chứng nhận của bệnh viện cấp huyện và tương đương trở lên); Có thể áp dụng thay thế các môn đặc thù dành cho người khuyết tật.

c. Đối tượng được tạm hoãn học các môn học về Giáo dục thể chất:

          - Sinh viên đang học nhưng sức khoẻ không đảm bảo;

          - Sinh viên đang mang thai, nuôi con nhỏ dưới 24 tháng tuổi.

Các đối tượng trên nếu được thủ trưởng đơn vị đào tạo chấp thuận cho tạm hoãn học các môn học về Giáo dục thể chất thì sau khi hết thời hạn tạm hoãn phải tiếp tục học những nội dung còn thiếu trong chương trình quy định.

 Điều 9. Khóa học

1. Khoá học là thời gian thiết kế để sinh viên hoàn thành một chương trình đào tạo cụ thể.

Thời gian của khóa học đối với mỗi loại hình đào tạo như sau:

a. Hệ chính quy: từ 4 năm đến 5 năm tuỳ theo ngành đào tạo. Thời gian tối đa hoàn thành chương trình được cộng thêm 4 học kỳ đối với hệ đào tạo 4 năm, 6 học kỳ đối với hệ đào tạo 5 năm.

b. Hệ tại chức: từ 5 năm đến 7 năm tuỳ theo ngành đào tạo. Thời gian tối đa hoàn thành chương trình được cộng thêm 6 học kỳ. Trường hợp tổ chức đào tạo thành lớp riêng cho 100% đối tượng đã có bằng tốt nghiệp cao đẳng hoặc đại học ngành gần hoặc cùng nhóm ngành đào tạo, có thể rút ngắn thời gian đào tạo, nhưng thời gian đào tạo tối thiểu của khóa học phải là 3 năm.

c. Hệ chuyên tu: từ 1,5 năm đến 2,5 năm tuỳ theo khoá học. Thời gian tối đa hoàn thành chương trình được cộng thêm 2 học kỳ.

d. Văn bằng thứ hai: thời gian của mỗi khóa học do thủ trưởng đơn vị đào tạo quy định đối với từng học viên trên cơ sở những kiến thức đã được tích lũy và kết quả học tập được bảo lưu tại văn bằng đại học thứ nhất, nhưng không vượt quá thời gian quy định đối với ngành đào tạo của hệ đào tạo tương ứng.

2. Khoá học được tổ chức theo năm học và học kỳ. Mỗi năm học có hai học kỳ chính. Mỗi học kỳ chính có 15 tuần thực học và 3 tuần thi, kiểm tra. Ngoài hai học kỳ chính, thủ trưởng đơn vị đào tạo xem xét quyết định tổ chức thêm một học kỳ phụ để sinh viên có điều kiện được học lại, học bù hoặc học vượt. Mỗi học kỳ phụ có ít nhất 5 tuần thực học và 1 tuần thi, kiểm tra.

3. Lịch trình đào tạo được tổ chức theo nguyên tắc: khối kiến thức cơ bản học trước; khối kiến thức chung và khối kiến thức cơ bản chung của nhóm ngành bố trí xen kẽ nhưng cố gắng đưa vào những học kỳ đầu, khối kiến thức cơ sở, chuyên ngành và nghiệp vụ học sau.

4. Đầu khóa học, đơn vị đào tạo có trách nhiệm phổ biến cho sinh viên biết về chương trình đào tạo toàn khóa, về quy chế đào tạo, về nghĩa vụ và quyền lợi của sinh viên và phương pháp học đại học. 

5. Thời gian hoạt động giảng dạy được tính từ 8 giờ đến 20 giờ hàng ngày. Tùy theo tình hình thực tế, thủ trưởng đơn vị đào tạo đại học quy định cụ thể thời gian hoạt động giảng dạy của đơn vị mình.

Điều 10. Kế hoạch đào tạo

1. Hàng năm, các đơn vị đào tạo lập kế hoạch tổ chức đào tạo năm học (theo mẫu do Đại học Quốc gia Hà Nội quy định), lịch trình đào tạo chi tiết và báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội (qua Ban Đào tạo) trước ngày 31 tháng 7 đối với hệ chính quy và 2 tuần trước ngày khai giảng đối với các hệ tại chức, chuyên tu, đào tạo văn bằng thứ hai. Lịch trình đào tạo chi tiết cần ghi rõ thời gian khai giảng khóa học; thời gian dạy và học, thi, kiểm tra trong mỗi học kỳ; thời gian thực hành, thực tập; thời gian tập quân sự; thời gian thi tốt nghiệp hoặc bảo vệ khóa luận tốt nghiệp; thời gian tổ chức lễ tốt nghiệp và phát bằng tốt nghiệp, thời gian nghỉ Tết.

2. Đầu mỗi năm học, đơn vị đào tạo phổ biến cho sinh viên kế hoạch học tập chung của năm học gồm danh mục các môn học sẽ được tổ chức giảng dạy trong từng học kỳ, thời gian và hình thức kiểm tra, thi các môn học đó. Khoa có trách nhiệm cung cấp cho sinh viên đề cương các môn học trong học kỳ.

3. Trước khi bắt đầu mỗi học kỳ, sinh viên phải tham khảo ý kiến tư vấn của cán bộ phụ trách đào tạo để đăng ký với đơn vị đào tạo học những môn học tự chọn và những môn học sai khác so với kế hoạch học tập chung của học kỳ đó. Thủ trưởng đơn vị đào tạo quyết định kế hoạch học tập trong học kỳ đối với mỗi sinh viên. Nếu không đăng ký, sinh viên phải chấp nhận kế hoạch học tập chung của đơn vị đào tạo.

4. Các đơn vị đào tạo phải gửi báo cáo sơ kết học kỳ I và báo cáo tổng kết năm học theo mẫu do Đại học Quốc gia Hà Nội quy định về Ban Đào tạo chậm nhất 1 tháng sau khi kết thúc học kỳ hoặc kết thúc năm học.

Điều 11. Liên kết đào tạo trong nước

        Đơn vị đào tạo được liên kết với các trường đại học, cao đẳng, các trung tâm giáo dục thường xuyên trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các viện nghiên cứu để tổ chức đào tạo các chương trình đại học không chính quy. Việc liên kết đào tạo các chương trình đại học hệ chính quy do Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định.  

TOP

CHƯƠNG II

TUYỂN SINH VÀ ĐĂNG KÝ HỌC TẬP

Điều 12. Điều kiện đăng ký dự thi tuyển sinh

Những người có đủ các điều kiện dưới đây được đăng ký dự thi tuyển sinh vào học tại Đại học Quốc gia Hà Nội:

1. Điều kiện về học lực:

a. Hệ chính quy: đã tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc tương đương (trung học chuyên nghiệp, trung học bổ túc, trung học nghề); đáp ứng các điều kiện về học lực ở bậc trung học phổ thông hoặc tương đương do Đại học Quốc gia Hà Nội quy định cho tất cả hoặc một số ngành học.

b. Hệ tại chức: đã tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc tương đương (trung học chuyên nghiệp, trung học bổ túc, trung học nghề).

c. Hệ chuyên tu: đã tốt nghiệp cao đẳng ngành phù hợp với ngành dự thi.

d. Văn bằng thứ hai: đã có một bằng tốt nghiệp đại học.

2. Không thuộc diện bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc can án;

3. Có đủ sức khoẻ để học tập theo quy định của ngành học;

4. Đáp ứng những quy định riêng đối với một số ngành học đặc thù.

 

Điều 13. Điều kiện miễn thi tuyển sinh

1. Các đối tượng sau đây đăng ký vào học tại các đơn vị đào tạo thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội được miễn thi tuyển sinh:

a. Hệ chính quy: theo Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

b. Hệ tại chức:

·       Anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang, chiến sĩ thi đua toàn quốc đã có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc tương đương.

·       Người đã dự thi và trúng tuyển vào đại học hệ chính quy hoặc tại chức tại các đơn vị đào tạo thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, nhưng ngay năm đó có lệnh điều động đi nghĩa vụ quân sự hoặc đi thanh niên xung phong tập trung nay đã hoàn thành nghĩa vụ, được phục viên, xuất ngũ mà chưa được nhận vào học ở một trường, lớp nào, được từ cấp trung đoàn trong quân đội hoặc Tổng đội Thanh niên xung phong trở lên giới thiệu, nếu có đủ điều kiện về sức khỏe, có đầy đủ giấy tờ hợp lệ và chưa quá 5 năm tính từ ngày dự thi đại học thì được xem xét nhận vào học tại đơn vị đào tạo trước đây đã trúng tuyển.

·       Người đã có bằng tốt nghiệp đại học ngành trong cùng nhóm ngành hoặc cùng khối thi tuyển sinh với ngành đăng ký dự thi.

c. Văn bằng thứ hai:

·       Hệ chính quy: Người đã có bằng tốt nghiệp đại học hệ chính quy tại Đại học Quốc gia Hà Nội đăng ký vào học ngành đào tạo khác trong cùng nhóm ngành.

·       Hệ tại chức:

o        Người đã có bằng tốt nghiệp đại học hệ chính quy ngành trong cùng nhóm ngành với ngành đăng ký học;

o        Người đã có bằng tốt nghiệp đại học hệ chính quy ngành thuộc nhóm ngành khoa học tự nhiên đăng ký học ngành thuộc các nhóm ngành kỹ thuật, công nghệ, kinh tế và ngoại ngữ;

o        Người đã có bằng tốt nghiệp đại học hệ chính quy ngành thuộc các nhóm ngành khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ đăng ký học ngành thuộc các nhóm ngành kinh tế và ngoại ngữ.

2. Trong trường hợp số thí sinh được miễn thi tuyển vượt quá chỉ tiêu đào tạo được giao, thủ trưởng đơn vị đào tạo cần phải tổ chức kiểm tra để tuyển đủ chỉ tiêu. Môn kiểm tra, nội dung, hình thức kiểm tra do thủ trưởng đơn vị đào tạo quy định và thông báo cho thí sinh.

 

Điều 14. Người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc tương đương, có đủ trình độ tiếng Việt hoặc ngoại ngữ (nếu theo học chương trình đào tạo được thực hiện bằng ngoại ngữ tương ứng) đáp ứng yêu cầu học tập tại Đại học Quốc gia Hà Nội được Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xét tuyển theo đề nghị của thủ trưởng đơn vị đào tạo.

Những trường hợp đặc biệt khác do Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định.

 

Điều 15. Hàng năm, căn cứ vào tình hình đội ngũ cán bộ giảng dạy và cơ sở vật chất, đơn vị đào tạo dự kiến chỉ tiêu tuyển sinh năm học sau cho các loại hình đào tạo của đơn vị mình và gửi văn bản đề nghị cùng báo cáo về việc thực hiện chỉ tiêu tuyển sinh của năm học trước về Đại học Quốc gia Hà Nội (qua Ban Đào tạo) trước ngày 31 tháng 5. Sau khi được Đại học Quốc gia Hà Nội giao chỉ tiêu tuyển sinh, đơn vị đào tạo phân bổ chỉ tiêu tuyển sinh cho các ngành đào tạo trong mỗi loại hình đào tạo thuộc đơn vị mình.

Chỉ tiêu tuyển sinh của năm học nào được thực hiện trong năm học đó, không chuyển sang năm học sau.

 

Điều 16. Công tác tuyển sinh

1. Hệ chính quy: Hàng năm, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức tuyển sinh đại học chính quy theo Quy chế tuyển sinh đại học và cao đẳng hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các văn bản quy định về tuyển sinh đại học do Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội ban hành. Đại học Quốc gia Hà Nội chỉ đạo điều phối chung và trực tiếp tổ chức làm đề thi chung hoặc quyết định sử dụng đề thi do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức làm chung cho cả nước. Các đơn vị đào tạo đề xuất khối thi tuyển sinh và hệ số điểm các môn thi cho từng ngành đào tạo để trình Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội phê duyệt và thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng trước ngày thi tuyển 6 tháng. Thủ trưởng đơn vị đào tạo ra quyết định thành lập hội đồng tuyển sinh của đơn vị. Hội đồng tuyển sinh của đơn vị đào tạo chịu trách nhiệm quyết định điểm chuẩn phù hợp với chỉ tiêu tuyển sinh được giao, công bố kết quả và triệu tập thí sinh trúng tuyển của đơn vị mình. Việc tiếp nhận hồ sơ dự thi, coi thi, làm phách, ráp điểm, tiếp nhận đơn xin phúc khảo được tổ chức theo khối thi và được Đại học Quốc gia Hà Nội giao cho các hội đồng tuyển sinh của một số đơn vị đào tạo thực hiện. Việc chấm thi, kể cả phúc khảo được tổ chức theo từng môn thi và được Đại học Quốc gia Hà Nội giao cho hội đồng tuyển sinh của đơn vị đào tạo có ngành chuyên môn tương ứng thực hiện.

2. Các hệ tại chức, chuyên tu và văn bằng thứ hai:

a. Trên cơ sở chỉ tiêu đã phân cho khóa học, đơn vị đào tạo lập kế hoạch phân bổ chỉ tiêu cho các ngành và báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội (qua Ban Đào tạo) chậm nhất 1 tháng sau khi nhận được quyết định phân bổ chỉ tiêu của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội.

b. Các lớp mở tại địa phương phải có công văn đề nghị của ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc bộ, ngành trung ương.